Bắc Ninh Business
Khảo sát

Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?



Xem kết quả
Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?

Tổng số: 3605 phiếu

Công báo chính phủ
Lượt truy cập
2,976,225
Một số vấn đề về phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

1.     Khái quát tình hình phát triển các KCN Bắc Ninh

Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) đã và đang thể hiện rõ vai trò, hiệu quả của một mô hình tổ chức sản xuất công nghiệp mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các KCN thực tế đã tạo ra bước phát triển mới, mạnh mẽ trong phát triển công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bằng những đóng góp tích cực trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, giải quyết việc làm, góp phần hiện đại hoá kết cấu hạ tầng, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 15 KCN tập trung, trong đó đã có 10 KCN đã đi vào hoạt động, 5 KCN đang triển khai xây dựng hạ tầng. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 53,3%, cao hơn tỷ lệ lấp đầy của cả nước (khoảng 47%), nếu tính tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt 74,8%. Các KCN đã thu hút được các dự án đầu tư lớn trong và ngoài nước, có công nghệ hiện đại như: Samsung, Canon, ABB…. Từ sự phát triển của các KCN, ngành công nghiệp của Bắc Ninh đã định hình và phát triển những ngành mũi nhọn như công nghiệp điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến công nghệ cao...

Các KCN Bắc Ninh đã thu hút được 500 dự án đầu tư sản xuất công nghiệp với tổng vốn đăng ký 3.782,21 triệu USD. Hiện có 251 dự án đi vào hoạt động (trong đó 132 dự án FDI). Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN (không tính đầu tư phát triển hạ tầng) đạt 51.927,5 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 2.088 triệu USD, tạo việc làm cho gần 67.750 người, trong đó lao động địa phương chiếm 43,8 %.

2.     Một số vấn đề về phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, trong quá trình phát triển các KCN vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập từ công tác quy hoạch đến triển khai thực hiện như giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng, thu hút đầu tư (chất lượng), vấn đề lao động, công tác bảo vệ môi trường và cơ chế, chính sách liên quan tới KCN còn chồng chéo, chưa đồng bộ,...

a)     Quy mô phát triển KCN chưa phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh, điều kiện để phát triển các khu công nghiệp chưa được chuẩn bị chu đáo, làm giảm hiệu quả phát triển khu công nghiệp.

Quy hoạch phát triển KCN mang tính định hướng về bố trí không gian công nghiệp trên cơ sở các định hướng lớn về về phát triển các ngành, lĩnh vực trên phạm toàn tỉnh. Tuy nhiên, sự phát triển các KCN của tỉnh (từ quy hoạch đến triển khai thực tiễn) thời gian qua chủ yếu xuất phát từ thực tế nhu cầu thu hút đầu tư của địa phương và của doanh nghiệp, do vậy chưa thực sự dựa trên nhu cầu và khả năng phát triển (với những điều kiện nhất định) theo quy hoạch/định hướng phát triển các ngành lĩnh vực có liên quan.

Quy hoạch phát triển các KCN chưa gắn với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy hoạch chi tiết từng KCN với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong KCN)… là một ví dụ. Điều này ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển KCN.

Việc triển khai đầu tư phát triển các KCN nhiều khi cũng không đồng bộ với đầu tư phát triển các dự án/công trình thuộc những ngành nghề khác có liên quan, làm giảm hiệu quả của các KCN.

Công tác chuẩn bị cho sự ra đời của các KCN cũng bộc lộ nhiều yếu kém, thể hiện trên các phương diện: thiếu cán bộ quản lý có năng lực, thiếu đội ngũ lao động lành nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh trong KCN, thiếu sự chuẩn bị về nội dung mời gọi các nhà đầu tư. Về vấn đề này, hầu như KCN nào cũng gặp phải, đặc biệt là KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN theo quy hoạch được duyệt chưa được giám sát chặt chẽ, dẫn tới việc các địa phương và chủ đầu tư xây dựng KCN không tuân thủ quy hoạch hoặc không thực hiện các hạng mục công trình theo quy hoạch (như hệ thống xử lý nước thải, chất thải,...).

b)    Mặc dù trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã có các KCN có tính chuyên ngành khá cao (sản xuất sản phẩm điện tử…), song cơ bản vẫn chưa hình thành các cụm liên kết trong sản xuất công nghiệp (các cluster), chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn.

Định hướng ngành nghề của các KCN được xác định tương đối giống nhau (chế biến nông sản, may mặc, cơ khí, điện tử...) và đa dạng trong mỗi khu công nghiệp, đồng thời, khi thu hút đầu tư chưa chú trọng tới việc tạo điều kiện hình thành các cụm liêt kết… Do vậy, khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất, sẽ có những sản phẩm giống nhau, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt không cần thiết, có thể dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, trong khi các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn lại chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp.

c)     Hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế vận hành hợp lý làm giảm khả năng cũng như hiệu quả phát triển khu công nghiệp

Mặc dù hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh những năm qua được cải thiện đáng kể, nhiều công trình hạ tầng đối ngoại như đường giao thông đối ngoại, hạ tầng viễn thông, hạ tầng cấp điện, cấp, thoát nước,... được đầu tư tạo điều kiện cho cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng, đảm bảo giao thương thuận tiện hơn. Tuy nhiên, do các công trình hạ tầng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, lợi ích kinh tế trực tiếp không lớn, thời gian xây dựng kéo dài… làm giảm tính đồng bộ (về không gian và thời gian) dẫn đến làm giảm hiệu quả của hệ thống hạ tầng, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các khu công nghiệp.

Hơn nữa nhiều hạng mục đầu tư vượt khỏi không gian của tỉnh, song thiếu sự phối hợp giữa các địa phương cũng làm giảm hiệu quả và tính động bộ theo mạng, làm giảm tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

d)    Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn, phức tạp; hiệu quả sử dụng đất KCN còn chưa cao

Mặc dù các KCN tỉnh Bắc Ninh thời gian qua có những bước phát triển tích cực; ngoài các KCN thuận lợi trong việc giải phóng mặt bằng, một số khu vực khác còn gặp nhiều khó khăn như KCN Gia Bình, Yên Phong 2, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai, thu hút đầu tư thấp vì nhiều lý do chủ quan và khách quan như: sự chậm trễ trong việc phổ biến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tới người dân nên dẫn đến những khiếu kiện, tranh chấp về đất đai ảnh hưởng tới tiến độ đền bù giải phóng mặt bằng và tiến độ chung của dự án; hoặc do sự chồng chéo trong xây dựng quy hoạch (quy hoạch điện, giao thông) dẫn đến sự lúng túng giữa các cơ quan trong việc triển khai thực hiện quy hoạch KCN.

Công tác tái định cư và tình hình đời sống người dân sau khi bị thu hồi đất tại khu vực quy hoạch phát triển KCN còn gặp nhiều khó khăn. Người dân sau thu hồi đất thường gặp phải tình trạng thiếu đất sản xuất, cuộc sống không ổn định... Đặc biệt, một bộ phận người dân sau khi bị thu hồi đất không tìm được việc làm phù hợp hoặc chưa nhận được giúp đỡ của chính quyền địa phương.

Mặt khác, do thiếu quỹ đất sản xuất nông nghiệp nên xuất hiện tình trạng người dân đem tiền đền bù gửi tiết kiệm hoặc xây nhà hoặc mua sắm tài sản không sinh lời và không tạo được công ăn việc làm khiến một số hộ dân lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

e)     Vấn đề lao động trong KCN

Những năm qua các KCN của tỉnh đã tạo việc làm cho gần 67.750 người, trong đó lao động địa phương chiếm 43,8%. Việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp KCN đang gặp mâu thuẫn, đó là thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa. Để giải quyết tình trạng này, các chủ doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động ngoại tỉnh (chiếm khoảng 56,2%), phải tổ chức đạo tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc. Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa là yếu tố phát sinh những vấn đề phức tạp từ việc di cư lao động từ địa phương này sang địa phương khác làm việc trong KCN.

Bắc Ninh là địa phương phát triển nhanh về KCN, song tương tự như tình trạng chung ở phần lớn các KCN trong cả nước, chưa giải quyết được vấn đề nhà ở cho công nhân, chưa định hướng rõ và ban hành được cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe và môi trường sống (vệ sinh, an ninh xã hội…) của người lao động. Lao động ngoại tỉnh thường thuê nhà ở khu vực xung quanh KCN để cư trú với điều kiện sống tạm bợ, hết sức khó khăn. Do quy mô đầu tư lớn, vốn đầu tư đòi hỏi nhiều, thu hồi vốn chậm, hiệu quả đầu tư thấp, nên rất ít doanh nghiệp tham gia xây dựng nhà ở cho công nhân.

Về việc thực hiện các chính sách, pháp luật về lao động, trong các doanh nghiệp KCN đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động còn thiếu nghiêm túc và mang tính hình thức đối với các vấn đề về ký kết hợp đồng lao động, kéo dài thời gian thử việc, thời gian làm việc nhiều, xử lý kỷ luật, sa thải công nhân một cách tuỳ tiện,... chính sách tiền lương chậm thay đổi,... ảnh hưởng đến điều kiện sống cho người lao động và gia đình.

f)      Công tác bảo vệ môi trường trong KCN chưa được cải thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định.

KCN là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, cũng là nơi thải ra môi trường các loại chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải nguy hại. Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy, việc xử lý rác thải chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu. Việc phân loại rác thải và xử lý chỉ phù hợp với mức độ nguy hại, ít gây ô nhiễm, còn lại các rác thải công nghiệp nguy hại chưa được xử lý triệt để. Đặc biệt tại các nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa…, lượng chất thải rắn chủ yếu là nhựa, hoá chất rắn, chất dẻo, cao su… là những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt, nước ngầm và đất.

Ngoài ra còn phải kể đến một lượng lớn rác thải xây dựng được thải ra trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN và xây dựng nhà xưởng để sản xuất của các doanh nghiệp trong KCN.

g)     Tương tự như các địa phương khác, khung pháp lý còn có những bất cập, quản lý nhà nước tuy đã có chuyển biến nhưng còn lúng túng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển các KCN ở Bắc Ninh.

Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ là một bước tiến dài trong tiến trình hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển các khu công nghiệp. Tuy nhiên, còn một số hạn chế ảnh hưởng đến thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào các khu công nghiệp:

–       Chính sách phát triển KCN nhằm tạo môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước chậm được đổi mới cho phù hợp với tình hình mới.

–       Chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính bảo hộ đối với doanh nghiệp trong nước, chưa thực sự tạo môi trường đầu tư bình đẳng cho khu vực trong và ngoài nước.

–       Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN và người dân còn chưa tốt dẫn đến người dân bị thu hồi đất chưa được đền bù thoả đáng, hoặc chậm được phổ biến quy hoạch, chính sách đền bù gây khiếu kiện kéo dài.

–       Thủ tục cấp phép đầu tư còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thực sự phát huy nguyên tắc một cửa, một đầu mối trong KCN là Ban Quản lý khu công nghiệp, thể hiện ở chỗ doanh nghiệp còn phải tới làm việc với các cơ quan khác như đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư…

–       Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy quản lý KCN thiếu hụt về trình độ, năng lực quản lý, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn phát sinh tại địa phương.

3.     Kiến nghị về giải pháp phát triển các KCN Bắc Ninh

a)     Định hướng phát triển các KCN tỉnh Bắc Ninh

Phát triển các KCN hiện có theo chiều sâu và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động theo hướng:

–       Đẩy mạnh thu hút đầu tư, lấp đầy diện tích đất công nghiệp; chuyển dịch cơ cấu bên trong thông qua thu hút, lựa chọn các doanh nghiệp có công nghệ cao, thân thiện môi trường, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả theo hướng hình thành các cluster công nghiệp.

–       Chỉ thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất kinh doanh trong các khu công nghiệp khi đã xây dựng đồng bộ, đầy đủ cơ sở hạ tầng theo quy hoạch được duyệt.

–       Chấm dứt việc cấp dời các dự án sản xuất công nghiệp ở ngoài các khu, cụm công nghiệp.

–       Phát triển các KCN gắn với việc bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN; chăm lo điều kiện làm việc, đời sống và nhà ở cho người lao động; giám sát chặt chẽ việc thi hành pháp luật về lao động trong các doanh nghiệp KCN.

–       Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tư cơ sở hạ tầng để thu hút các doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo đến năm 2020, lấp đầy về cơ bản diện tích đất công nghiệp còn lại; xây dựng hoàn thiện các khu đô thị gắn với các KCN.

b)    Kiến nghị giải pháp phát triển

–       Tập trung hoàn thiện đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN Bắc Ninh đến năm 2015 định hướng đến năm 2020, nhằm phát triển đồng bộ, hiệu quả giữa đầu tư, xây dựng các KCN và các quy hoạch chuyên ngành khác.

–       Thực hiện nghiêm chỉnh quy hoạch xây dựng KCN đã được phê duyệt trên cơ sở thực hiện một cách đồng bộ quy hoạch các ngành, lĩnh vực có lien quan, đảm bảo cung ứng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào hiện tại cũng như trong tương lai. Giao trách nhiệm tối đa cho các doanh nghiệp chuyên ngành đầu tư phát triển các công trình hạ tầng ngoài hàng rào. Ngoài việc dùng ngân sách để hỗ trợ đầu tư các công trình này, cần phải có những cơ chế, chính sách thích hợp để thu hút các nguồn vốn khác nhau tham gia, đầu tư các công trình hạ tầng ngoài hàng rào.

–       Tăng cường công tác quản lý Nhà nước sau đầu tư (gồm cả công tác kiểm tra, giám sát), nâng cao chất lượng dịch vụ công, thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, tổng hợp qua mạng Internet… Đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng và các doanh nghiệp thứ cấp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường.

–       Cải tiến phương pháp xúc tiến, thu hút đầu tư, tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như châu Âu, Mỹ, Nhật,… để thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao.

–       Thúc đẩy việc phát triển các KCN chuyên ngành, tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, viễn thông) và công nghiệp hỗ trợ.

Nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp KCN, khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp./.

       Th.s. Nguyễn Văn Vịnh

       Trưởng ban Phát triển hạ tầng,

       Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH&ĐT  


0 đánh giá cho bài viết này.
Họ và tên:  (*) Email:  (*)
Mã xác nhận:  (*)   9CB6F  
   
Bài viết liên quan khác:
Ngày  Tháng  Năm  

Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh

Search Tìm kiếm

Nhập từ khóa tìm kiếm:



Video Bắc Ninh Bắc Ninh qua Video

Bắc Ninh qua ảnh Bắc Ninh qua Ảnh

Đền Đô
KCN Tiên Sơn
Làng tranh Đông Hồ
Làng Nghề Đông Kỵ
Trung tâm Thành Phố
Chùa Dâu
Đăng ký kinh doanhHỏi đáp thủ tục hành chínhDoi thoai doanh nghiepBắc Ninh cải thiện môi trường đầu tưDanh sách đơn vị có chức năng hỗ trợ doanh nghiệp

          Số giấy phép:154/GP - TTĐT, cấp ngày 22/8/2011

          Cơ quan chủ quản: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

          Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Phương Bắc – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh

         Trụ sở: số 6 Lý Thái Tổ, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh - Điện thoại: 0241.3822.569 - Email: skhdt@bacninh.gov.vn