Bắc Ninh Business
Khảo sát

Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?



Xem kết quả
Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?

Tổng số: 3744 phiếu

Du ngoạn miền quê quan họCông báo chính phủ
Lượt truy cập
3,393,485
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quí I năm 2012

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÍ I NĂM 2012

 

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 trong bối cảnh chung của cả nước, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Thị trường tài chính tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư, việc tiếp cận vốn tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh khó khăn do lãi suất còn ở mức cao; lạm phát có nguy cơ tăng do có sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu, giá điện; dịch bệnh còn diễn biến phức tạp đặc biệt là dịch cúm gia cầm; nguồn vốn đầu tư phát triển gặp khó khăn do đầu tư công bị thắt chặt... là những cản trở lớn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển. Trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh và chủ động trước khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, điều hành kiên quyết, tập trung của chính quyền các cấp, sự đồng thuận cao của MTTQ và các đoàn thể, sự nỗ lực cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, kinh tế - xã hội quí I đã đạt được những kết quả đáng mừng, tạo động lực cho các quí tiếp theo để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2012 đã đề ra, cụ thể như sau:

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

  I. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

  1. Sản xuất Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Sản xuất Nông nghiệp

Kết quả sản xuất vụ đông: Do giá cả các yếu tố đầu vào tăng mặc dù vẫn tiếp tục được hỗ trợ về giá, thời tiết bất lợi, rét đậm, rét hại kéo dài nên sản xuất vụ đông năm nay đạt kết quả không cao. Kết thúc vụ, toàn tỉnh gieo trồng 9.951,6 ha cây rau màu, giảm 4,4% (tương đương giảm 455,4 ha) so với cùng vụ năm trước; trong đó, diện tích cây ngô là 2.002 ha, tăng 720 ha, sản lượng 8.627 tấn, tăng 3.021 tấn; diện tích cây thực phẩm là 6.470 ha, giảm 281 ha; sản lượng đạt 129.645 tấn. Giá trị sản xuất (giá CĐ 1994) là 236,8 tỷ đồng, giảm 3,4% so cùng vụ năm trước; trong đó, GTSX ngành trồng trọt 232 tỷ đồng, giảm 2%. Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác vụ đông là 73 triệu đồng, tăng 9 triệu đồng so vụ đông năm trước.

Vụ đông xuân 2011 - 2012: Thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài làm cho mạ xuân phát triển chậm; tình trạng thiếu nước đổ ải vẫn diễn ra cục bộ ở một số địa phương; năm nay có tháng 4 (âm lịch) nhuận nên tiến độ gieo cấy vụ xuân diễn ra chậm hơn. Đến ngày 20/3, toàn tỉnh hoàn thành gieo cấy lúa xuân và cơ bản kết thúc gieo trồng rau màu vụ xuân. Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân là 49.084 ha, đạt 96,2% KH, bằng 95,4% so vụ đông xuân năm trước; trong đó, nhóm cây lương thực có hạt là 39.507 ha, vượt 2,9% KH và bằng 99,8% (riêng lúa xuân là 35.707, đạt 99,2% và bằng 97%); nhóm cây rau đậu là 7.170 ha, đạt 79,8% và bằng 86,8%; nhóm cây công nghiệp là 1.435 ha, chỉ đạt 57,4% KH và bằng 61,1%; hoa và cây cảnh tiếp tục được đầu tư và mở rộng, với diện tích 266 ha, vượt 20,9% KH vụ và tăng 68,4% so cùng vụ năm trước.

Chăn nuôi và công tác thú y: Thời tiết rét đậm, rét hại kèm theo mưa phùn kéo dài, không khí ẩm thấp đã tạo điều kiện cho nhiều mầm bệnh trên đàn vật nuôi phát triển mạnh. Đến ngày 14/3, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện ở 8 hộ gia đình của 6 thôn, 6 xã thuộc 4 huyện, thành phố: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du và TP Bắc Ninh trên đàn gia cầm, 2.372 con buộc phải tiêu hủy. Ngành chức năng và các địa phương phải sử dụng gần 10 nghìn lít hoá chất và hơn 1 nghìn tấn vôi bột để vệ sinh, khử trùng và tiêu độc môi trường. Đồng thời, lập các chốt kiểm dịch để kiểm soát vận chuyển, giết mổ trong vùng dịch và các vùng lân cận.

Ngành Thú y đã tổ chức sớm đợt tiêm phòng đại trà để tăng sức đề kháng cho đàn vật nuôi. Kết quả, toàn tỉnh đã tiêm 113,5 nghìn liều vắc-xin các cho đàn lợn; 448 nghìn vắc-xin các loại cho đàn gia cầm (trong đó, có 51,5 nghìn liều vắc-xin cúm gia cầm). Như vậy, trong quí I toàn tỉnh đã tiêm phòng 238,7 nghìn liều vắc-xin các loại cho đàn gia súc; 1.443,3 nghìn liều vắc-xin các loại cho đàn gia cầm (trong đó, có 517,8 nghìn liều vắc-xin cúm gia cầm).

1.2. Sản xuất Lâm nghiệp

Theo kế hoạch, năm nay toàn tỉnh phấn đầu trồng 25 ha rừng tập trung và 400 nghìn cây phân tán. Trong quí I, các địa phương chủ yếu tập trung cho công tác chuẩn bị hiện trường, cây giống để triển khai công tác trồng rừng. Đến nay, toàn tỉnh đã trồng hơn 76,6 nghìn cây phân tán, bằng 19,2% KH năm; riêng trong ngày Tết trồng cây truyền thống đầu xuân đã trồng 19,9 nghìn cây các loại.

1.3. Sản xuất Thuỷ sản

Trong quí I, giá bán các loại sản phẩm thuỷ sản tăng, nhu cầu tiêu dùng cao, khuyến khích chăn nuôi thuỷ sản phát triển; ngoài việc thu hoạch diện tích cá đã nuôi còn lại, các hộ nuôi trồng thuỷ sản đang tiếp tục tu bổ, sửa chữa hệ thống ao, hồ, cống cấp và thoát nước; cải tạo, nạo vét khử trùng vệ sinh đáy ao, hồ; tôn cao bờ ao để chuẩn bị nuôi thả cá vụ mới. Chi cục Thuỷ sản tỉnh tích cực bám sát cơ sở để hướng dẫn kỹ thuật chọn giống, cách thả, chăm sóc và sử dụng các loại thuốc để phòng và trị bệnh cho thuỷ sản.

  2. Sản xuất Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quí I gặp nhiều khó khăn như: giá điện, giá nhiên liệu điều chỉnh tăng, lãi suất vay vốn mặc dù có giảm nhưng vẫn giữ ở mức cao... Bên cạnh đó, một số sản phẩm tiêu thụ chậm, lượng tồn đọng lớn nên sản xuất có phần giảm sút hơn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài duy trì sản xuất ổn định, sản xuất công nghiệp trong quí I vẫn phát triển trong xu thế vững chắc. Tháng 3, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 1,2% so tháng trước và tăng 39% so cùng tháng năm trước; trong đó, công nghiệp chế tạo tăng cao nhất, tăng 39,5%. Tính chung quí I, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 35,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó, IIP ngành công nghiệp chế biến tăng 36,4%.

Về giá trị sản xuất: Sản xuất công nghiệp địa bàn tỉnh quí I đạt khá, theo giá cố định 1994, GTSX công nghiệp là 19.084 tỷ đồng, tăng 33,8% so quí I/2011; trong đó, các doanh nghiệp FDI chiếm 78,6% và tăng 39,5%. Theo giá so sánh 2010, GTSX là 55.529,2 tỷ đồng, tăng 38,5%; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 99,6% và tăng 38,6% so cùng kỳ.

Về sản phẩm: Hầu hết các sản phẩm chủ lực được xuất khẩu và dễ tiêu thụ trong nước đều có sản lượng sản xuất tăng cao so cùng kỳ như: thức ăn gia súc tăng 26,3%; thuốc lá tăng 62,9%; bình đun nước nóng tăng 27%; máy in laze tăng 14,4%; điện thoại di động tăng 93,8%… Tuy nhiên, cũng có một số loại sản phẩm do lượng tiêu thụ giảm, tồn kho đến cuối tháng 2 lớn nên lượng sản xuất trong quí giảm như: bột lúa mì giảm 5,8%; bia các loại giảm 42,1%; giấy các loại giảm 12,9%; kính các loại giảm 14,5%; que hàn giảm 26,3%… Đây là những sản phẩm chịu nhiều tác động bởi yếu tố tăng giá đầu, tăng chi phí sản xuất.

Phân phối và tiêu thụ điện: Trong quí, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng, điện cho sản xuất được cung cấp đầy đủ, ổn định nên sản lượng điện thương phẩm tiêu thụ tăng khá. Tổng sản lượng điện thương phẩm ước 454,8 triệu kwh, tăng 10,6% so quí I/2011; trong đó, điện dùng cho nông, lâm, thủy sản 9,9 triệu kwh, giảm 9,8%; công nghiệp chế biến 325,4 triệu kwh, tăng 12,2%; điện sinh hoạt dân cư 104 triệu kwh, tăng 5,8%.

 

  3. Hoạt động đầu tư phát triển

          Thực hiện vốn đầu tư: Mặc dù lãi suất ngân hàng giảm nhưng vẫn giữ ở mức cao, doanh nghiệp khó tiếp cận với vốn vay, số lượng doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thực hiện đầu tư không nhiều nên tổng vốn đầu tư trên địa bàn giảm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước 4.346,9 tỷ đồng, giảm 15,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước chiếm 64,2% và giảm 17,9%; khu vực FDI chiếm 25,5% và giảm 22,4%; vốn đầu tư cho XDCB chiếm 75,2% và giảm 5,4%. Ở lĩnh vực đầu tư công, do thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của TW và địa phương nên vốn đầu tư từ ngân sách được giải ngân sớm và tập trung ưu tiên cho các công trình trọng điểm, cấp bách. Tổng vốn đầu tư phát triển của Nhà nước quí I ước 447,7 tỷ đồng, tăng 39,2% so cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách địa phương 427 tỷ đồng, tăng 64,6% (NSNN cấp tỉnh chiếm 85,1%, tăng 93,9%).

Xây dựng: Do vốn đầu tư giảm, nhu cầu xây dựng trong dân cư chưa lớn nên hoạt động xây dựng giảm. Giá trị sản xuất xây dựng theo giá thực tế quí I ước 2.206,7 tỷ đồng, giảm 10,5% so với quí I/2011; trong đó, khối doanh nghiệp là 526,8 tỷ đồng, giảm 20,3%; khu vực hộ dân cư là 1.676,3 tỷ đồng, giảm 6,9%.

  Phát triển doanh nghiệp: Từ ngày 01/01 đến 21/3, Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cấp ĐKDN cho 158 doanh nghiệp, số vốn đăng ký 1.589 tỷ đồng, 10 chi nhánh, VPĐD. Lũy kế đến nay, tổng số doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn có 5.119 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 93.397 tỷ đồng; 395 chi nhánh, VPĐD.

 Thực hiện Luật Đầu tư: Quí I, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới 12 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng vốn đầu tư đăng ký 122,06 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh tăng vốn 05 dự án, mức vốn tăng thêm 38,75 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh giảm vốn 01 dự án, mức vốn giảm 3,5 triệu USD; cấp GCNĐT 04 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký 1.801 tỷ đồng. Lũy kế đến nay, trên địa bàn có 346 dự án FDI và 17 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh: 3.950,47 triệu USD; có 571 dự án đầu tư trong nước được GCNĐT, tổng vốn đầu tư đăng ký 67.145 tỷ đồng.

  4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 3 ước 2.119 tỷ đồng, tăng 1,7% so tháng trước, tăng 20,4% so cùng tháng năm trước; trong đó, kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng 78,1%, tăng 1,9% và tăng 20,3%; kinh tế tư nhân chiếm 19,7%, tăng 1,2% và tăng 21,4%. Tính chung quí I, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là 6.732 tỷ đồng, tăng 21,3% so quí I/2011; Nếu loại trừ yếu tố tăng giá (bình quân quí I tăng thêm 7,2%) thì mức tăng là 13,2%, cao hơn mức 11,8% của quí I/2011.

4.2. Hoạt động ngoại thương

Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thị trường được giữ vững nên hoạt động ngoại thương vẫn đạt kết quả cao. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 3 ước 724,6 triệu USD, tăng 3,1% so tháng trước và gấp 2,4 lần so cùng tháng năm trước; tính chung quí I đạt 2.151,4 triệu USD, gấp 3,1 lần so cùng kỳ năm trước; sản phẩm chủ yếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu là điện tử chiếm 97,7%. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3 ước 651,3 triệu USD, tăng 5,6% so tháng trước và gấp 2,2 lần so cùng tháng năm trước; tính chung quí I đạt 1.932,6 triệu USD, gấp 2,8 lần so cùng kỳ; mặt hàng nhập khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn là nhóm hàng điện tử với kim ngạch 1.832,4 triệu USD, chiếm 94,8%/tổng kim ngạch NK toàn tỉnh, gấp 3,6 lần so cùng kỳ).

Nếu tính cả các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc (DN tỉnh khác đóng trên địa bàn) thì tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh quí I là 2.378,6 triệu USD, đạt 25% KH năm và gấp 2,5 lần so cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu là 2.014,2 triệu USD, đạt 22,3% KH, gấp 2,5 lần. Với kết quả này, mức xuất siêu trong quí I đạt 364,3 triệu USD và tỷ lệ xuất siêu là 15,3%.

4.3. Hoạt động vận tải, du lịch, bưu chính viễn thông

Hoạt động vận tải: Hoạt động vận tải vẫn đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá và nhu cầu đi của nhân dân, nên đạt kết quả khá cả về sản lượng và doanh thu. Vận tải hành khách, quí I toàn tỉnh vận chuyển 3 triệu lượt hành khách, tăng 6,7% so so cùng kỳ năm 2011; luân chuyển 97.419 nghìn HK.km, tăng 21%; doanh thu vận tải hành khách 111,2 tỷ đồng, tăng 35,8%. Vận tải hàng hoá, vận chuyển ước 7 triệu tấn, tăng 18,4% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển ước 325.891 nghìn tấn.km, tăng 17,9%; doanh thu vận tải hàng hóa ước 375,4 tỷ đồng, tăng 27,8%.

Hoạt động Du lịch: Năm 2012, Bắc Ninh tổ chức kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh nên ngay từ đầu năm, nhiều sự kiện văn hoá và lễ hội truyền thống lớn được tổ chức như lễ hội “Khán hoa Mẫu đơn” tại Chùa Phật Tích và chương trình nghệ thuật “Huyền thoại Tiên Du”; hội Lim với màn trình diễn kỷ lục về số người mặc áo quan họ và cùng hát quan họ; lễ hội Lăng Kinh Dương Vương... Vì thế, lượng du khách đến Bắc Ninh tăng cao. Tổng lượt khách quí I ước 70,7 nghìn lượt người, tăng 33,8% so quí I/2011; tổng ngày khách ước 75,9 nghìn lượt.ngày, tăng 37,6% và tổng doanh thu 55,6 tỷ đồng, tăng 38,6%.

Hoạt động Bưu chính viễn thông: Do nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ viễn thông đã bão hoà nên số khách hàng đăng ký mới trong quí I không có đột biến, toàn tỉnh phát triển thêm 32,9 nghìn thuê bao điện thoại các loại, giảm 25,4% so với quí I/2011; trong đó, cố định là 1,3 nghìn thuê bao, tăng 10,6%; di động trả sau là 12,1 nghìn thuê bao, tăng 35,3% và di động trả trước là 19,6 nghìn thuê bao, giảm 42,5%. Tuy nhiên, số thuê bao Internet lại tăng nhanh, với 4 nghìn thuê bao phát triển trong quí I, tăng 29,3% so với quí I/2011. Đến cuối tháng 3, toàn tỉnh đã có 1.176,7 nghìn thuê bao điện thoại các loại trên mạng, tăng 2,3% so cùng thời điểm năm trước; trong đó, có 189,7 nghìn thuê bao cố định, tăng 1,4%; 132,4 nghìn thuê bao di động trả sau, tăng 11,3%. Trong tổng số 55,2 nghìn thuê bao Internet, thì có 54 nghìn thuê bao ADSL, xDSL, tăng 42,4% so cùng thời điểm năm trước.

Chỉ số giá tiêu dùng: Mặc dù, giá nhiên liệu tăng nhưng chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 3 chỉ tăng 0,26%, là mức tăng thấp so với mức tăng của các tháng gần đây. Sau 3 tháng, chỉ số giá tiêu dùng tăng thêm 3,36%. Điều này cho thấy, các cấp, các ngành cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả và kiên quyết các giải pháp của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới nhằm bình ổn, hạn chế mức tăng dẫn đến tạo mặt bằng giá mới.

5. Hoạt động Tài chính - Ngân hàng và Tín dụng

Hoạt động tài chính: Tổng thu trong quí I là 1.802 tỷ đồng, đạt 24% KH năm, tăng 15% so cùng kỳ; trong đó, một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn, có tốc độ tăng cao so cùng kỳ như: thu từ DNNNTW chiếm 13,2% và tăng 17,1%; thu từ doanh nghiệp FDI chiếm 17,1% và tăng 109%; thu thuế thu nhập cá nhân chiếm 8,3% và tăng 42,1%; thu từ hải quan chiếm 35,2% và tăng 25,5%. Tổng chi ngân sách địa phương là 1.402 tỷ đồng, đạt 26,5% KH năm, giảm 7,5% so quí I/2011; trong đó, chi đầu tư phát triển tăng 44,9%, chi thường xuyên giảm 9,2%.

Hoạt đông Ngân hàng - Tín dụng: Lãi suất tiết kiệm mặc dù đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, giá vàng có xu hướng giảm, thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu khởi sắc đã giúp cho các tổ chức tín dụng và ngân hàng trên địa bàn huy động vốn thuận lợi hơn. Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 3 ước 18,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so tháng trước và tăng 20,4% so cùng thời điểm năm 2011; trong đó, tiền gửi tiết kiệm chiếm 58,6%/tổng nguồn vốn, tăng 5,5% và tăng 14,5%. Trong quí I, do lãi suất cho vay vẫn giữ ở mức cao, nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất của các DN và tổ chức kinh tế chưa nhiều nên hoạt động tín dụng chững lại. Đến cuối tháng 3 tổng dư nợ cho vay trên địa bàn ước 26,15 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so tháng trước và tăng 6,5% so cùng thời điểm năm trước; so với thời điểm cuối năm 2011 giảm 1,5%. Kết quả này cho thấy, nếu lãi suất còn cao lại không được hỗ trợ và khó tiếp cận nguồn vốn vay thì SXKD của các cơ sở kinh tế trong thời gian tới sẽ tiếp tục sụt giảm và hoạt động tín dụng cũng giảm theo, số nợ xấu sẽ tiếp tục gia tăng (đến cuối tháng 3, số nợ xấu đã trên 1.500 triệu đồng và tỷ lệ nợ xấu là 5,74%, trong khi đó cùng thời điểm này năm trước là 1.318,8 tỷ đồng và tỷ lệ là 5%).

          II. HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA – XÃ HỘI    

  1. Giáo dục - Đào tạo

Năm học 2011-2012, ngành Giáo dục - Đào tạo tiếp tục duy trì và thực hiện các cuộc vận động mà năm học trước đạt hiệu quả cao, tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục trọng điểm. Đến giữa năm học toàn tỉnh có 7.926 lớp học mầm non và phổ thông các cấp, giảm 76 lớp so với năm học trước; huy động 13.215 trẻ em đến nhà trẻ, đạt tỷ lệ 28,5% dân số từ 0-2 tuổi; có 55.002 học sinh mẫu giáo, đạt tỷ lệ 97,9% dân số từ 3-5 tuổi và tăng 9,2% so năm trước trước; bậc tiểu học có 82.914 học sinh, tăng 1%; bậc THCS có 63.042 học sinh, giảm 1% và bậc THPT có 41.743 học sinh, giảm 5,4%. Số lượng giáo viên bậc mầm non có 3.640 giáo viên, tăng 26,3% so năm trước; bậc tiểu học có 3.797 giáo viên, tăng 0,4%; bậc THCS có 3.792 giáo viên, giảm %; bậc THPT có 2.373 giáo viên, giảm 2,3%.

Về Đào tạo, UBND tỉnh đã chỉ đạo các trường chuyên nghiệp triển khai nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo và đào tạo theo nhu cầu xã hội, đồng thời chỉ đạo các địa phương tập trung xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020. Hiện nay, toàn tỉnh có 15.044 sinh viên đang học hệ CĐ và ĐH, tăng 5,5% so với năm học trước; có 18.500 học sinh đang học các hệ THCN, CNKT và dạy nghề dài hạn, tăng 49,1%. Bên cạnh đó, các ngành, tổ chức đoàn thể và các địa phương cũng phối hợp với nhau để tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Năm 2012, toàn tỉnh phấn đấu đào tạo nghề cho khoảng 30 nghìn người và thực hiện tốt hoạt động giới thiệu việc làm sau đào tạo, bảo đảm hơn 70% lao động nông thôn có việc làm sau khi học nghề.

  2. Hoạt động Khoa học công nghệ; Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Hoạt động khoa học công nghệ: được triển khai thực hiện sớm và đồng đều trên các mặt công tác. Trong quí I, UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt kế hoạch KHCN năm 2012 bao gồm 38 đề tài, dự án và nhiệm vụ KHCN. Ngành KHCN đã tổ chức thẩm định, ký kết hợp đồng thực hiện 30 đề tài, dự án; nghiệm thu đánh giá kết quả 4 đề tài, dự án đã hoàn thành; Hướng dẫn 18 đơn vị đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp; Cấp mới 6 giấy phép hoạt động cho thiết bị X-quang y tế; Kiểm định, hiệu chuẩn 230 phương tiện đo các loại; Triển khai thử nghiệm 33 mẫu sản phẩm hàng hóa...

Công tác thanh tra, kiểm tra hàng hoá lưu thông được quan tâm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, đã đem lại hiệu quả tích cực trong việc ngăn chặn tệ nạn sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng cũng như lợi ích của chính các doanh nghiệp.

Công tác quản lý tài nguyên: Trong quí, ngành chức năng tổ chức tổng kết thực hiện Nghị quyết TW7, khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015); điều chỉnh dự án tổng thể xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai theo chỉ đạo của Bộ TNMT và UBND tỉnh. Báo cáo tình hình khai thác, tập kết cát sỏi lòng sông; đề xuất phương hướng và lộ trình quy hoạch bổ sung các điểm tập kết, khai thác cát, sỏi lòng sông.

Bảo vệ môi trường: Công tác quản lý, khắc phục cấp phép môi trường, thanh kiểm tra vi phạm môi trường được duy trì. Tuy nhiên, ở khu vực các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, nông thôn tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn chưa được kiểm soát, việc xả rác bừa bãi của người dân vẫn chưa được cải thiện do chưa gắn với các chế tài xử lý.

3. Hoạt động Văn hoá thông tin - Thể dục thể thao

Trong quí 1, công tác thông tin tuyên truyền được thực hiện với nhiều hình thức, nội dung tập trung tuyên truyền: phong trào xây dựng làng, khu phố văn hoá; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ; cấm sản xuất, nhập khẩu tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo và đốt thả đèn trời; tổ chức đón tết nguyên đán Nhâm Thìn 2012... Đặc biệt, nhân kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh, các ngành và các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động gắn với tuyên truyền như: trưng bày sách, ảnh nghệ thuật, cổ vật; tổ chức hội thi sinh vật cảnh, lễ dâng hương tại Đền Đô, lễ mít tinh kỷ niệm; chương trình nghệ thuật “Bắc Ninh - Kinh Bắc linh thiêng ngàn năm hội tụ”; thi hát Quan họ; tổ chức các trò chơi dân gian; triển lãm thành tựu KT-XH; tổ chức Hội chợ thương mại; tổ chức đêm chung kết cuộc thi “Người đẹp Kinh Bắc”… Toàn tỉnh đã kẻ vẽ, cắt dán trên 1.000 khẩu hiệu trên băng zôn vượt đường, trên 950 khẩu hiệu, panô, cụm cổ động trực quan, treo trên 9.000 cờ các loại; tổ chức 26 buổi biểu diễn nghệ thuật; 200 buổi chiếu bóng; phát hành gần 1,5 triệu đĩa VCD, DVD về “Quan họ”; thực hiện 273 chương trình phát thanh với 227,5 giờ phát sóng; 546 chương trình truyền hình (tăng 185 chương trình so cùng kỳ năm trước) với 1.493 giờ truyền hình; kiểm tra, xử lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá, tổ chức lễ hội sai qui định của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, qua thanh kiểm tra 201 lượt cơ sở, đã nhắc nhở 157 cơ sở, xử lý vi phạm hành chính 15 cơ sở, phạt tiền nộp Kho bạc nhà nước 61 triệu đồng.

Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và tiếp tục phát triển về bề rộng. Các địa phương tổ chức nhiều hoạt động thể dục thể thao sôi nổi vào dịp đầu xuân, các lễ hội, ngày thành lập Đảng, ngày Quốc tế Phụ nữ,…Ở cấp tỉnh, đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao, như: cầu lông, bóng chuyển, võ cổ truyền, cờ vua, cờ tướng. Đáng chú ý, ngày 10/3/2012 đã khai mạc Hội khoẻ Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh lần thứ VIII với 35 đoàn VĐV tham dự; ngày 18/3 tổ chức thành giải chạy “Cúp Báo Bắc Ninh” lần thứ XVI thu hút hàng nghìn lượt VĐV tham gia.

  4. Hoạt động Y tế

Trong quí I, bệnh tay chân miệng ở trẻ em trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp; đến ngày 15/3, đã phát hiện 217 nghi mắc bệnh tại 56 xã/phường/thị trấn, đã xác định 9 ca dương tính với EV71. Ngành y tế đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh. Đồng thời, tổ chức tuyên truyền, xử lý tiêu trùng, khử độc môi trường nhằm ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh và lây nhiễm. Công tác khám chữa bệnh tiếp tục được coi trọng, ước tính trong quí I khám chữa cho 268,5 nghìn lượt người, tăng 27% so với quí I/2011; trong đó, điều trị nội trú 26,8 nghìn người, tăng 39,7%.

Công tác tuyên truyền chính sách pháp luật về dân số - KHHGĐ được tăng cường, nhất là ở các vùng, khu vực có tỷ lệ sinh cao; chú trọng các biện pháp nhằm giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên. Tính chung, quí I có thêm 33.838 người mới sử dụng các biện pháp tránh thai, đạt 60% KH năm, giảm 11,4% so quí I/2011; tiêm AT cho 5.161 phụ nữ có thai, tăng 3%. Tiêm phòng miễn dịch cơ bản cho 4.366 trẻ em, giảm 9,7%.

Tình hình lây nhiễm HIV có xu hướng tăng, qua 2 tháng xét nghiệm 1.167 người đã phát hiện 11 trường hợp dương tính HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV từ trước đến nay lên 2.239 người, tăng 4,4% so cùng thời điểm năm trước; trong đó, có 814 người chuyển sang giai đoạn AIDS và đã chết 597 người.

  5. Lao động việc làm và công tác xã hội khác

Lao động việc làm: Quy mô nền kinh tế trên địa bàn tiếp tục mở rộng và phát triển; các doanh nghiệp, nhất là ở khu vực FDI vẫn tích cực tuyển dụng lao động với nhiều chính sách ưu đãi, phúc lợi nhằm thu hút lao động có tay nghề và chất lượng cao là cơ hội thuận lợi để người lao động lựa chọn việc làm phù hợp với mức thu nhập tốt hơn. Bên cạnh đó, các cơ sở giới thiệu việc làm cũng chủ động nắm bắt nhu cầu tuyển dụng nhằm tư vấn, giới thiệu cho người lao động. Tính chung quí I, toàn tỉnh giải quyết việc làm mới 7.057 lao động, đạt 26,1% KH năm, tăng 17,8% so với quí I/2011; trong đó, xuất khẩu 620 lao động, đạt 24,8% KH, tăng 1,6%.

Đời sống dân cư và công tác xã hội: Kinh tế của tỉnh trong quí I duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; hoạt động SXKD phát triển, người lao động tìm được nhiều việc làm mới, xuất khẩu tăng, các chính sách đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục thực hiện đồng bộ là những nhân tố giúp cho đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục được cải thiện. Khu vực sản xuất kinh doanh, đơn vị thuộc trung ương quản lý thu nhập là 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 30% so cùng kỳ; địa phương quản lý là 3,3 triệu đồng/người/tháng, tăng 21,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3,5 triệu đồng/người/tháng, tăng 12,9%; hành chính sự nghiệp 3,5 triệu đồng/người/tháng, tăng 20,7%.

Trong quí I, UBND tỉnh, các ngành chức năng và chính quyền các cấp tổ chức nhiều cuộc thăm và tặng quà cho các đối tượng chính sách, trợ cấp cho các hộ gia đình và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Toàn tỉnh đã tặng 65.606 suất quà, tổng trị giá 13 tỷ đồng; trợ cấp 6.168 hộ nghèo, số tiền 2.069,6 triệu đồng. Ngoài ra, ngành Y tế cũng đã tặng quà 200 bệnh nhân nằm điều trị trong dịp Tết tại các bệnh viện, trị giá 200 nghìn đồng/bệnh nhân.

6. Công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Lực lượng công an mở nhiều đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm. Đồng thời, tăng cường kiểm tra nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng vi phạm NQ 05/CP, Nghị định 47/CP và NĐ 36/CP của Chính phủ. Tính đến ngày 10/3, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 116 vụ phạm pháp hình sự, tăng 9 vụ so kỳ năm trước; trong đó, có 14 vụ trọng án, giảm 4 vụ; phát hiện bắt 20 vụ, 21 đối tượng phạm tội về ma túy (giảm 26 vụ), thu 717 gam Heroin, 387 viên ma túy tổng hợp và nhiều tang vật liên quan khác. Đã xảy ra 9 vụ cháy, nổ (giảm 6 vụ) với tổng trị giá thiệt hại về tài sản là 423 triệu đồng.

An toàn giao thông: Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông tiếp tục được tăng cường, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 26 người (giảm 2 vụ, tăng 6 người chết so với cùng kỳ). Ngành chức năng tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo tinh thần NQ 32/CP của Chính phủ về tăng cường các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Đến ngày 10/3, qua công tác tuần tra, kiểm soát phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính 8.299 lượt phương tiện vi phạm Luật Giao thông đường bộ; xử phạt tiền, thu nộp kho bạc Nhà nước 3.372 triệu đồng; tăng 3.148 trường hợp xử phạt và tăng 1.554 triệu đồng so cùng kỳ năm trước.

 

  B. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trước tình hình kinh tế dự báo còn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh năm 2012 đã đề ra, cùng với việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả 5 mục tiêu ưu tiên và 3 nhiệm vụ tập trung; Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về các giải pháp tập trung chủ yếu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, đòi hỏi trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục:

- Tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động phòng ngừa không để lạm phát tăng cao, tiếp đà tăng trưởng trên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính cạnh tranh và bền vững của sự phát triển.

- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chính sách của trung ương vào điều kiện cụ thể của tỉnh, trong đó đáng chú ý là thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cấu trúc nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết TW3, khoá XI đã đề ra (tập trung tái cấu trúc đầu tư công).

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết của HĐND tỉnh, gắn với xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh công tác dự báo, cảnh báo, chuẩn bị phương tiện, phương án huy động lực lượng phòng chống, khắc phục thiên tai, dịch bệnh để bảo đảm an toàn, ổn định phát triển sản xuất và đời sống nhân dân.

- Thường xuyên theo dõi diễn biến thị trường để kịp thời chỉ đạo sản xuất, dự trữ, lưu thông, phân phối hàng hóa thông suốt. Kiểm soát chặt chẽ giá cả thị trường; ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp găm giữ hàng, đầu cơ, đưa tin thất thiệt về tình hình tài chính, tiền tệ, khan hiếm nguồn hàng... để nâng giá bán, gây bất ổn thị trường, giá cả.

- Điều hành ngân sách có hiệu quả, tích cực thu bằng các giải pháp quyết liệt, thu triệt để tình trạng nợ đọng, nhất là nợ từ các dự án thuê đất, xây nhà ở để bán, đấu giá quyền sử dụng đất, phấn đấu tăng thu, thực hiện cắt giảm đầu tư công, tiết kiệm, hiệu quả chi và giảm bội thi NSNN. Thực hiện tốt các biện pháp tiết kiệm điện, giảm nhu cầu về điện năng.

- Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, theo hướng lựa chọn phát triển bền vững, tăng cường quản lý nhà nước đối với loại hình kinh tế này. Đồng thời chủ động thu hút đầu tư trong nước, trong tỉnh, nâng cao hiệu quả đầu tư.

- Thúc đẩy phát triển khu vực dịch vụ, tập trung vào các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế phát triển và giá trị gia tăng cao như: Vận tải, tài chính, ngân hàng, viễn thông, thương mại, du lịch, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ; đi đôi với đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, các giải pháp chăm sóc khách hàng, giảm chi phí hợp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ.

- Huy động tối đa, sử dụng và quản lý tốt các nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.

- Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hoá - xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo chất lượng thực chất, xử lý kiên quyết với bệnh thành tích trong giáo dục; Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá nghệ thuật, phát thanh truyền hình, phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của nhân dân.

- Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.

 

Tóm lại, quí I năm 2012, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định: sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; các hoạt động dịch vụ tiếp tục phát triển; đời sống nhân dân, nhất là những người nghèo, người già neo đơn, người tàn tật, gia đình người có công được quan tâm..., an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm, an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn, tồn tại trong quí I gặp phải, đó là thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài, thiếu nước phục vụ sản xuất nên tiến độ sản xuất vụ xuân chậm; dịch bệnh còn xuất hiện; tình trạng đình công, bỏ việc tại một số doanh nghiệp sau tết vẫn diễn ra; giá điện, giá xăng dầu điều chỉnh tăng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân, nhất là đối với hộ nghèo, lao động có thu nhập thấp...

Trong thời gian tới, tình hình kinh tế thế giới, trong nước được dự báo còn có nhiều biến động khó khăn, thách thức, đòi hỏi các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân cần chủ động khắc phục mọi khó khăn, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, tiếp tục thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2012 đã đề ra./.


                                                                                            SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

0 đánh giá cho bài viết này.
Họ và tên:  (*) Email:  (*)
Mã xác nhận:  (*)   BE81E  
   
Bài viết liên quan khác:
Ngày  Tháng  Năm  

Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh

Search Tìm kiếm

Nhập từ khóa tìm kiếm:



Video Bắc Ninh Bắc Ninh qua Video

Bắc Ninh qua ảnh Bắc Ninh qua Ảnh

Đền Đô
KCN Tiên Sơn
Làng tranh Đông Hồ
Làng Nghề Đông Kỵ
Trung tâm Thành Phố
Chùa Dâu
Đăng ký kinh doanhHỏi đáp thủ tục hành chínhDoi thoai doanh nghiepBắc Ninh cải thiện môi trường đầu tưDanh sách đơn vị có chức năng hỗ trợ doanh nghiệp

          Số giấy phép:154/GP - TTĐT, cấp ngày 22/8/2011

          Cơ quan chủ quản: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

          Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Phương Bắc – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh

         Trụ sở: số 6 Lý Thái Tổ, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh - Điện thoại: 0241.3822.569 - Email: skhdt@bacninh.gov.vn