Bắc Ninh Business
Khảo sát

Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?



Xem kết quả
Đánh giá của bạn về cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh?

Tổng số: 3828 phiếu

Du ngoạn miền quê quan họCông báo chính phủ
Lượt truy cập
3,632,538
Báo cáo KTXH 6 tháng đầu năm 2011; Nhiệm vụ và giải pháp 6 tháng cuối năm 2011

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

6 THÁNG ĐẦU NĂM; NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP 6 THÁNG CUỐI NĂM 2011

Năm 2011 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo đà để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh; triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Thực hiện Nghị quyết số 172/2010/NQ-HĐND16 ngày 09/12/2010 của HĐND tỉnh khóa XVI về mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, UBND tỉnh đã triển khai giao kế hoạch cho các ngành, địa phương ngay từ cuối năm 2010, đồng thời ban hành Chỉ thị số 01/ CT- UBND ngày 07/01/2011 về những nhiệm vụ trọng tâm năm 2011. Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy, giám sát của HĐND tỉnh, sự chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, nỗ lực của các cấp, các ngành, sự phối hợp của các đoàn thể và đặc biệt là sự phấn đấu vượt qua khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân đã góp phần bước đầu thực hiện tốt Nghị quyết 11 của Chính phủ, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2011 tiếp tục có bước phát triển, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống dân cư có nhiều cải thiện, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.

                                                   PHẦN THỨ NHẤT

TTÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2011

I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU

Ước tính 6 tháng đầu năm, tổng GDP 5.538,2 tỷ đồng (giá CĐ 1994), đạt 49,9% KH năm, tăng 18,8% so cùng kỳ năm 2010; trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 689,2 tỷ đồng, đạt 52,4% KH năm, tăng 2,6%; công nghiệp xây dựng 3.091,2 tỷ đồng, đạt 50,8% KH năm, tăng 29,8%; dịch vụ 1.757,9 tỷ đồng, đạt 47,4% KH năm, tăng 9,6% so cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 65%; dịch vụ chiếm 25,1%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 9,9%. Sau đây là kết quả đạt được trên các lĩnh vực chủ yếu:

1. Kinh tế tăng trưởng cao; thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 11 của Chính phủ.

 1.1. Sản xuất nông nghiệp vượt qua khó khăn, phát triển ổn định

Sáu tháng đầu năm, bên cạnh một số thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn: thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài, khô hạn đầu vụ; giá giống, vật tư nông nghiệp ở mức cao, dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là dịch tai xanh ở lợn... UBND tỉnh tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành chức năng chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp, kịp thời khắc phục khó khăn (nhất là nước tưới và thời tiết); cùng với  nỗ lực của nông dân, tiếp tục chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển và mở rộng lúa lai và các vùng chuyên canh, tích cực thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa giống cây con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, xây dựng và triển khai đề án về chăn nuôi theo quy mô trang trại, sản xuất sạch hơn, kịp thời ngăn ngừa, phòng chống dịch bệnh, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ sản xuất và hạ tầng nông thôn; triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, thành lập BCĐ các cấp, đảm bảo nguồn vốn để thực hiện thí điểm tại 8 xã.

Tổng GTSX nông, lâm, thuỷ sản ước 1.396 tỷ đồng (giá CĐ 1994), đạt 55% KH năm, tăng 3,6% so cùng kỳ; trong đó, GTSX nông nghiệp ước 1.279 tỷ đồng, đạt 57,3%, tăng 4,1%; lâm nghiệp tăng 2,7%; thuỷ sản giảm 1,8%; GTSX trồng trọt ước 751 tỷ đồng, đạt 67,7%, tăng 4,3%. Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân 2010-2011 ước 51.430 ha, đạt 95,8% KH năm, trong đó, diện tích gieo trồng một số loại cây chính đạt cao như: cây lương thực có hạt ước 40.518 ha, đạt 106,6%; cây rau, đậu các loại ước 8.299 ha, tăng 3,7%; diện tích lúa lai được nâng lên, chiếm gần 53% diện tích  lúa của vụ... Sản lượng lương thực có hạt ước 266.993 tấn; năng suất lúa ước 69,1 tạ/ha, tăng 4,5 tạ/ha, cao nhất từ trước tới nay; sản lượng lúa ước 255.058 tấn, tăng 6,6% so cùng kỳ năm trước.

Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng chăn nuôi tiếp tục phát triển, GTSX chăn nuôi ước 465 tỷ đồng (giá CĐ 1994), đạt 49% KH năm, tăng 2,9% so cùng kỳ. Nuôi trồng thuỷ sản đạt khá, diện tích ước 5.433 ha, đạt 97%, tăng 0,3%; sản lượng ước 15.615 tấn, đạt 65,5%.

Toàn tỉnh đã trồng 188.790 cây phân tán, đạt 20,7% KH năm, trồng rừng mới 39,5 ha, đạt 79%, gấp trên 4 lần so cùng kỳ; xây dựng đề án phát triển rừng gắn với các di tích lị ch sử, văn hóa, phát triển du lịch sinh thái. Công tác kiểm lâm được tăng cường, đã bắt giữ 24 vụ vi phạm pháp luật về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu 18 m3 gỗ các loại, nộp vào tài khoản tạm giữ gần 1 tỷ đồng.

1.2. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao

 Trong điều kiện khó khăn, lạm phát, lãi suất tăng cao, nhưng do phát huy lợi thế của khu vực làng nghề, sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh. Đã tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020, tạo chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, năng suất, chất lượng, hiệu quả tăng lên. GTSX công nghiệp ước 25.683 tỷ đồng (giá CĐ 1994), đạt 67% KH năm, tăng 56,6% so cùng kỳ. Trong đó:

Xét theo khu vực kinh tế: Công nghiệp Nhà nước GTSX ước 1.304 tỷ đồng, tăng 25%, chiếm 5% giá trị SXCN; Khu vực ngoài quốc doanh, GTSX ước 6.283,2 tỷ đồng, đạt 48,3%, tăng 19%, chiếm 24,5%; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp lớn cho sản xuất công nghiệp, GTSX ước 18.096 tỷ đồng, đạt 78,7%, tăng 79,6%, chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm 70,5%), chủ yếu do sự đóng góp Công ty SamSung Electronics Việt Nam.

 Xét theo địa phương: GTSX của tất cả các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn đều có mức tăng trưởng trên 2 con số so với cùng kỳ, trong đó, huyện Yên Phong có mức tăng trưởng cao nhất (tăng gấp 3,3 lần), tiếp đến là các huyện Lương Tài tăng 47,3%, Quế Võ tăng 38,6%, Tiên Du tăng 36,1%...

Sản phẩm chủ yếu: Một số sản phẩm chủ lực có mức tăng trưởng cao là điện thoại di động tăng 166,2%, giấy 123,1%, sắt thép 170,4%, bàn ghế gỗ tăng gấp 3 lần... Tuy nhiên, một số sản phẩm bị sụt giảm do nhu cầu những tháng đầu năm chững và giá nguyên liệu đầu vào tăng như ống nhựa cứng giảm 7,4%, tấm lát sàn giảm 18,7%...

Sản lượng điện thương phẩm: Ước 886 triệu KWh, tăng 92,6% so cùng kỳ. Sản lượng điện cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.

  1.3. Thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển

          Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước 10.512 tỷ đồng, đạt 58,4% KH năm, tăng 26,8% so cùng kỳ; tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước 2.232,5 triệu USD, đạt 74,4%, tăng gần 2,5 lần; nhập khẩu ước 1.835 triệu USD, đạt 68% KH năm.

Công tác quản lý thị trường được quan tâm chỉ đạo, tiến hành kiểm tra chống hàng giả, gian lận thương mại, chấn chỉnh  kinh doanh vàng, ngoại tệ.

Hoạt động vận tải ổn định, khối lượng vận chuyển hàng hoá ước 11.915 nghìn tấn, đạt 51,8%, tăng 5,1%; hàng hoá luân chuyển ước 549.902 nghìn tấn.km, đạt 52,4%, tăng 5,1%; Vận chuyển hành khách ước 5.534 nghìn người, đạt 55.3%, tăng 18,1%; luân chuyển hành khách ước 159.956 nghìn người.km, đạt 53,3%, tăng 16,4%; doanh thu vận tải ước 776 tỷ đồng, tăng 21,2% so cùng kỳ. Trong điều kiện lạm phát, giá xăng dầu tăng, tỉnh tiếp tục giữ nguyên giá vé xe buýt, tăng trợ cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân.

Mạng lưới bưu chính viễn thông tiếp tục được nâng cấp, 6 tháng đầu năm, phát triển mới 62.778 thuê bao điện thoại, tăng 9,2%; thêm 2.740 thuê bao Internet, tăng 51,9% so cùng kỳ. Đến nay, toàn tỉnh có 1.232.467 thuê bao điện thoại, đạt 116 thuê bao/100 dân; 48.038 thuê bao internet, mật độ 19 thuê bao/100 dân.

1.4. Hoạt động đầu tư được quan tâm

Sáu tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước 10.696 tỷ đồng, tăng 21% so cùng kỳ; trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 830 tỷ đồng, tăng 11% so cùng kỳ; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển, nhất là các dự án công trình về giao thông, thủy lợi, bệnh viện... Cùng với việc rà soát, đình hoãn, giãn tiến độ thi công các công trình theo Nghị quyết 11 của Chính phủ, tỉnh quan tâm đầu tư các công trình hạ tầng quan trọng, thực hiện chủ trương đấu nối hạ tầng kỹ thuật, tổ chức không gian kinh tế và đô thị như đường 295B, tỉnh lộ 282 và cầu vượt sông Đuống, các dự án chỉnh trang đô thị; triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại thông báo 161/TB-VPCP ngày 14/6/2010 của Văn phòng Chính phủ.

Công tác quy hoạch xây dựng được quan tâm thực hiện, triển khai Đồ án Quy hoạch chung đô thị toàn tỉnh đến  năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cung cấp thông tin quy hoạch cho 72 dự án, tăng 28,6% so với cùng kỳ; cấp giấy phép xây dựng 507 công trình. Tăng cường quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện tốt các quy định về phân cấp, sơ kết, đánh giá và xây dựng quy trình, quản lý các dự án đầu tư theo hình thức BT.

Hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. UBND tỉnh đã tổ chức thành công hội nghị “Gặp mặt các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Giải pháp cho thành công mới”. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đứng thứ 6 toàn quốc, là một trong những yếu tố thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Sáu tháng đầu năm, toàn tỉnh đã cấp mới GCNĐT cho 18 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tổng vốn đầu tư đăng ký 79 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh tăng vốn 06 dự án đầu tư nước ngoài với mức vốn tăng thêm 20,4 triệu USD, nâng tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh 99,5 triệu USD; Cấp GCNĐT mới 31 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư 6.970 tỷ đồng. Đến nay, trên địa bàn có 307 đơn vị đầu tư trực tiếp nước ngoài, tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh 3.258 triệu USD; 511 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký 58.071 tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm, đã cấp GCN ĐKDN 370 doanh nghiệp, 32 chi nhánh, 5 văn phòng đại diện, tổng vốn đăng ký 3.341 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 4.404 doanh nghiệp. Công tác hậu kiểm, cơ chế “một cửa liên thông” tiếp tục thực hiện tốt, giải thể và thu hồi GCN ĐKDN 44 doanh nghiệp, đang tiến hành tổng rà soát và xử lý, thu hồi GCN ĐKDN đối với các doanh nghiệp ngừng nghỉ kinh doanh quá thời hạn hoặc không khai báo, bỏ địa chỉ đã đăng ký, đôn đốc các doanh nghiệp có trụ sở chính ngoài tỉnh đầu tư trên địa bàn thành lập chi nhánh hạch toán độc lập.

Các dự án ODA đang được đẩy nhanh tiến độ thực hiện: Dự án mua sắm trang thiết bị y tế Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh sử dụng vốn ODA của Tây Ban Nha; Dự án hỗ trợ phát triển hệ thống y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh sử dụng vốn ODA của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB); Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Bắc Ninh và Dự án xử lý chất thải rắn sử dụng nguồn vốn ODA của CHLB Đức; Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước đô thị thị trấn Chờ, huyện Yên Phong và thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình sử dụng vốn ODA của WB. Đồng thời xúc tiến dự án vốn ODA đầu tư giao thông nông thôn, tham gia chương trình hợp tác “hai hành lang, một vành đai” với sự tài trợ của ADB.

1.5. Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàng

Các cơ sở sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển, góp phần tăng thu ngân sách; ngành Thuế chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý và thu thuế. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước 3.004 tỷ đồng, đạt 52,2% dự toán, tăng 18% so cùng kỳ, trong đó, thu từ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ước 351 tỷ đồng, đạt 55% dự toán, tăng 29,8%... Tổng chi ngân sách địa phương ước 2.798 tỷ đồng, đạt 66% dự toán, tăng 41% so cùng kỳ, trong đó, chi đầu tư phát triển 565 tỷ đồng, đạt 40%; chi thường xuyên 1.232 tỷ đồng, đạt 56%. Thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên với số tiền 35,7 tỷ đồng; tạm ngừng trang bị mới 24 xe ô tô với tổng kinh phí 20 tỷ đồng; xác định được 40 dự án, với tổng mức đầu tư  trên 500 tỷ đồng thuộc diện ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thi công, trong đó, UBND tỉnh  đã quyết định đình hoãn, ngừng thi công đối với 04 dự án, với tổng mức đầu tư 56,3 tỷ đồng.

Các ngân hàng thương mại thực hiện đúng các quy định về trần lãi suất huy động, cơ cấu vốn cho vay phi sản xuất và phương án kiểm soát nợ xấu, góp phần kiềm chế lạm phát; tính thanh khoản đã được cải thiện. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng ước 14.950 tỷ đồng, tăng 20,8% so cùng kỳ; trong đó, tiền gửi tổ chức 5.250 tỷ đồng; tiền gửi tiết kiệm 9.250 tỷ đồng. Tổng dư nợ tín dụng ước 25.200 tỷ đồng, tuy tăng 32,6% so cùng kỳ, nhưng chỉ tăng 6,6% so với thời điểm 31/12/2010, trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn 11.500 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung dài hạn 9.750 tỷ đồng. Tổng thu tiền mặt ước 82.125,4 tỷ đồng, tăng 78,7% so cùng kỳ; tổng chi tiền mặt ước 82.851 tỷ đồng, tăng 77,2% so cùng kỳ.

2. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo

2.1. Giáo dục - Đào tạo tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ

Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học; công tác bồi dưỡng, thi học sinh giỏi có tiến bộ, trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia có 54 em dự thi 9 môn, 47 em đạt giải (đạt 87%), trong đó, 01 giải nhất; 12 giải nhì; 17 giải 3; 17 giải khuyến khích, có 01 học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi toán quốc tế. Chuyển đổi xong 100% các trường mầm non bán công sang công lập. Tập trung thực hiện đề án phổ cập GDMN cho trẻ giai đoạn 2010-2015, huy động 100% học sinh trong độ tuổi đến trường, 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 94% trẻ khuyết tật vào lớp hoà nhập và tiền hòa nhập; trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 97,1%; 126/126 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS thực chất, vững chắc, triển khai kế hoạch dạy ngoại ngữ cho học sinh giai đoạn 2011- 2020.

Tiếp tục làm tốt công tác bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi các bậc học; chuẩn bị tốt các điều kiện cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và tuyển vào lớp 10. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp năm học 2010-2011, hệ THPT: 99,62%; hệ GDTX 99,56%. Công tác kiên cố hoá trường học, xây dựng trường chuẩn quốc gia tiếp tục được đẩy mạnh; xúc tiến xây dựng Trường THPT chuyên Bắc Ninh và trường THCS chất lượng cao ở cấp huyện, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng nhân tài, triển khai kịp thời CTMTQG năm 2011.

2.2. Hoạt động Y tế tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng

Công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được coi trọng; chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên trên cơ sở tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng kỹ thuật mới gắn với đổi mới cơ chế tài chính, coi trọng giáo dục y đức, chế độ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, trẻ dưới 6 tuổi. Thực hiên tốt CTMTQG, củng cố y tế cơ sở; tiêm chủng mở rộng đạt 43,4% KH năm; khám chữa bệnh 578.603 lượt người, thực hiện kế hoạch 1.820 giường bệnh viện, công suất sử dụng đạt 104,2%. Mạng lưới công tác dân số từ tỉnh đến xã, thôn ổn định; số người mới sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại 48.406 người, đạt 88,4% KH năm.

2.3. Hoạt động văn hoá, thông tin và thể thao sôi nổi và tiếp tục đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực

Hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao, báo chí, phát thanh, truyền hình sôi nổi, phong phú chào mừng năm mới 2011, chương trình về miền quan họ, các ngày lễ, kỷ niệm lớn, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội bằng nhiều hình thức: văn hoá văn nghệ, thông tin lưu động, chiếu phim, thực hiện: 843 pano tranh cổ động; 3.178 băng vượt đường; 10.000 cờ các loại; 85 lượt phát thanh bằng ô tô lưu động. Tiếp tục triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Tăng cường quản lý lễ hội; triển khai chương trình bảo tồn di tích lịch sử và phát huy giá trị di sản văn hóa quan họ, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội. Tiếp tục chỉ đạo phát triển mạnh phong trào TDTT quần chúng; tập trung cao, đầu tư và đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao.

 Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh tổ chức sản xuất, phát sóng nhiều chương trình chất lượng tốt với 845 chương trình truyền hình, thời lượng 3.111 giờ, sử dụng 14.868 tin bài, tác phẩm báo chí; 547 chương trình phát thanh, thời lượng 456 giờ; 7 chương trình truyền hình trực tiếp; 24 chương trình phát thanh trực tiếp “60 phút Bạn và Tôi”; biên tập, phát sóng 633 chương trình văn nghệ.

Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch thực hiện liên tục, toàn tỉnh có 189 cơ sở kinh doanh du lịch; doanh thu ước 93,15 tỷ đồng, đạt 62% KH năm, tăng 27% so cùng kỳ.

2.4. Lao động, xã hội được bảo đảm

Sáu tháng đầu năm, toàn tỉnh giải quyết việc làm 13.200 lao động, đạt 50,8% KH năm, tăng 18,9% so cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu lao động 1.400 người, đạt 56% KH năm, tăng 13,6%; dạy nghề lao động nông thôn: 10.850 học viên; tổ chức 25 phiên sàn giao dịch thu hút 117 doanh nghiệp và 2.500 lao động tham gia.

Công tác chăm sóc người có công được quan tâm, trong dịp tết Tân Mão toàn tỉnh tặng 48.415 xuất quà, trị giá hơn 10.357 triệu đồng; tổ chức tốt các đợt điều dưỡng đối với người có công. Quan tâm trợ cấp: 3.437 hộ đặc biệt khó khăn, kinh phí  1 tỷ đồng; cấp 55.386 thẻ BHYT cho người nghèo, kinh phí 21,8 tỷ đồng; thực hiện tốt chế độ hỗ trợ hàng tháng đối với người cao tuổi. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, đã rà soát nắm chắc số hộ nghèo, lập kinh phí hỗ trợ tiền điện 18.475 hộ...

Công tác phòng chống ma tuý, mại dâm được đẩy mạnh. Trung tâm giáo dục dạy nghề hướng thiện tiếp nhận 95 đối tượng vào giáo dục, chữa trị, cai nghiện; bàn giao 86 đối tượng về gia đình và cộng đồng tiếp tục quản lý.

Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em tiếp tục triển khai có hiệu quả, tổ chức hoạt động văn hoá thể thao cho trẻ em dịp hè 2011; “Tháng hành động vì trẻ em” và ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6/2011, đẩy mạnh phong trào xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em.

3. Hoạt động khoa học công nghệ, tài nguyên và bảo vệ môi trường đạt được những kết quả tích cực

3.1. Khoa học và công nghệ có chuyển biến, góp phần thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.

Trong 6 tháng đầu năm, ngành Khoa học và Công nghệ tập trung triển khai những nhiệm vụ trọng tâm và đạt được những kết quả tích cực, nghiệm thu đánh giá kết quả 05 đề tài, dự án đã hoàn thành; thẩm định, ký hợp đồng, triển khai thực hiện 35 (100%) đề tài, dự án KH&CN mới. Triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 vào các cơ quan hành chính nhà nước năm 2011, trong đó, chuyển đổi từ hệ thống ISO 9001:2000 sang ISO 9001:2008 cho 19 đơn vị; áp dụng mới hệ thống đối với 7 đơn vị. Hướng dẫn 15 đơn vị đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp; kiểm định, hiệu chuẩn 1.085 phương tiện đo các loại; thử nghiệm chất lượng 38 mẫu sản phẩm, hàng hóa; tiếp nhận công bố phù hợp tiêu chuẩn quốc gia 13 sản phẩm. Công tác thanh tra về KH&CN được triển khai tích cực trong lĩnh vực đo lường, chất lượng, góp phần ngăn chặn sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng.

3.2. Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Hoàn thành việc tổng kết Luật Đất đai năm 2003, tổng hợp, báo cáo nhu cầu sử dụng đất để thực hiện các dự án, công trình cấp bách năm 2011 trên địa bàn tỉnh trình Bộ Tài nguyên và Môi trường và Thủ tướng Chính phủ ; hoàn thiện Dự thảo quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011-2015; thực hiện  tốt công tác dồn điền đổi thửa. Tiếp tục thực hiện dự án tổng thể xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tỉnh giai đoạn 2008 – 2015, cấp 2.855 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn thiện quy trình sửa đổi, bổ sung phí đo đạc, lập bản đồ địa chính. Phê duyệt dự án quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước, thăm dò đánh giá trữ lượng khoáng sản cát đen tuyến sông Đuống, tăng cường công tác kiểm tra đối với hoạt động khai thác, tập kết cát sỏi lòng sông, tập trung cao độ tại các khu vực kè, các điểm nóng.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường, UBND tỉnh ban hành Quy chế bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp; xây dựng Quy định quản lý nước thải cụm công nghiệp, làng nghề; đánh giá kết quả thực hiện xây dựng  điểm tập kết, vận chuyển rác thải khu vực nông thôn theo Quyết định số 50/2010/QĐ-UBND; hoàn thiện báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”.

4. Công tác nội chính đạt nhiều kết quả quan trọng, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo và giữ vững

4.1. Công tác Nội vụ

 Các ngành, các cấp tập trung chuẩn bị tốt và tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016; kiện toàn các chức danh UBND các cấp. Tiếp tục thực hiện rà soát, cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ; hoàn thành mô hình một cửa liên thông hiện đại ở cấp huyện. Tiếp tục thể chế hóa trách nhiệm của người đứng đầu trong thực thi công vụ, nhất là đối với việc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng xây dựng các đề án, báo cáo của các Sở, ban, ngành trình UBND tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; HĐND tỉnh.

Thực hiện tốt công tác tôn giáo, tuyên truyền, cổ vũ, động viên chức sắc, tín đồ tôn giáo và các tầng lớp nhân dân đoàn kết, thi đua yêu nước; nắm bắt tình hình hoạt động, cơ sở thờ tự tôn giáo ở một số địa phương và có biện pháp xử lý kịp thời...

Tiếp tục thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng, động viên, nâng cao tinh thần, trách nhiệm người cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất, phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới.

4.2. Công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo

 Công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo tập trung vào các vụ việc tồn đọng, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội ở cơ sở, góp phần tạo thuận lợi cho công tác bầu cử và triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng sau Đại hội. Sáu tháng đầu năm, tiếp nhận 1.354 đơn thư khiếu nại, tố cáo tăng 489 đơn so cùng kỳ; trong đó, đơn thư đủ điều kiện xử lý 823; 109 đơn thư thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp, giảm 8 đơn, đã giải quyết 84/109 đơn thuộc thẩm quyền, đạt 77%, qua giải quyết kiến nghị xử lý kỷ luật 09 cán bộ, đảng viên vi phạm, kiến nghị xử lý kinh tế, thu nộp Ngân sách Nhà nước và tài khoản tạm giữ 819 triệu đồng; xử lý về đất 1.839m2, thu hồi 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngành Thanh tra thực hiện 85 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 279 đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế; đã kết thúc và có kết luận 74 cuộc, 11 cuộc đang thực hiện. Qua thanh tra đã kiến nghị xử lý 4.268 triệu đồng; thu hồi về nhà nước 3.175 triệu đồng, giảm trừ quyết toán xây dựng cơ bản 419 triệu đồng, phạt hành chính 263 triệu đồng, xử lý khác 411 triệu đồng; kiến nghị xử lý về đất 4.296m2, thu hồi 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí được tăng cường, thực hiện tốt các giải pháp về phòng chống tham nhũng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khóa X; gắn việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực nhằm hạn chế phát sinh tham nhũng.

4.3. Công tác Tư pháp

Công tác tư pháp được tăng cường, thẩm định 41 lượt dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra 25 VBQPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành; 24 VBQPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành. Thụ lý, giải quyết 421 trường hợp xin cấp phiếu lý lịch tư pháp; 85 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài; 45 trường hợp người nước ngoài xin con nuôi; giám định tư pháp 452 vụ việc. Làm tốt công tác trợ giúp pháp lý, tư vấn 135 vụ việc cho các đối tượng chính sách, 51 điểm lưu động ở các thôn, xã, khu phố. Cho phép thành lập và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động 01 văn phòng công chứng, 01 văn phòng luật sư.

4.4. Chính trị xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được đảm bảo

Thực hiện nghiêm túc công tác sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với các lực lượng nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; Tổ chức giao quân đợt 1/2011 nhanh, gọn, an toàn, đạt 100% KH; thành lập Ban chỉ đạo, tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ diễn tập KVPT tỉnh theo chỉ đạo của Quân khu; Bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật, huấn luyện và nhiệm vụ thường xuyên, hoàn thành kế hoạch huấn luyện dân quân tự vệ đạt kết quả tốt.

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tập trung chỉ đạo bảo vệ tuyệt đối an toàn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, các sự kiện chính trị và hoạt động văn hóa lớn diễn ra trên địa bàn. Toàn tỉnh đã xảy ra 294 vụ phạm pháp hình sự (giảm 12 vụ so cùng kỳ), làm chết 9 người (tăng 2 người), bị thương 46 người (tăng 13 người), tài sản thiệt hại khoảng 7,6 tỷ đồng.

Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, lập biên bản 19.048 lượt phương tiện vi phạm Luật Giao thông đường bộ; 258 lượt tàu thuyền vi phạm Luật Giao thông đường thủy; xử phạt 10.332 trường hợp, thu nộp kho bạc 3,3  tỷ đồng; tước giấy phép lái xe có thời hạn 310 trường hợp. Tai nạn giao thông có xu hướng giảm, toàn tỉnh xảy ra 70 vụ làm chết 60 người, bị thương 33 người, tài sản thiệt hại khoảng 135 triệu đồng (giảm 45 vụ, giảm 15 người chết, 73 người bị thương so cùng kỳ).

II- CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH

Sáu tháng đầu năm UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo điều hành, giải quyết các nhiệm vụ theo đúng Luật Tổ chức HDND và UBND; tổ chức tổng kết nhiệm kỳ 2004-2011. Chủ tịch, Các Phó Chủ tịch UBND tỉnh tăng cường làm việc với các ngành, địa phương, doanh nghiệp tạo thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ đạo thực hiện 5 ưu tiên và 3 tập trung; 5 ưu tiên: Rà soát và điều chỉnh qui hoạch cho phù hợp với yêu cầu mới. Tập trung cao cho phát triển kinh tế, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông, nông nghiệp, nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải cách hành chính; xử lý môi trường; giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Ba tập trung: Tăng cường chỉ đạo điều hành; lựa chọn nhà đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đề án; giải quyết các điểm phức tạp, cải cách hành chính, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật hành chính, trật tự an toàn xã hội.

 Với sự tập trung chỉ đạo quyết liệt, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, song tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2011 đạt nhiều kết quả quan trọng, trong đó đáng chú ý là:

(1) Tăng trưởng kinh tế cao, tổng sản phẩm GDP đạt 49,8% KH năm, tăng 18,8% so cùng kỳ năm 2010; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, sản xuất kinh doanh tiếp tục được đẩy mạnh; công nghiệp tăng trưởng cao, nông nghiệp phát triển khá, năng suất lúa cao nhất từ trước tới nay;

(2) Việc thực hiện NQ 11 bước đầu đạt kết quả, thu ngân sách tăng khá, hoạt động tín dụng ổn định;

(3) Môi trường kinh doanh được cải thiện, chỉ số PCI (công bố ngày 16/3/2011) xếp thứ 6 toàn quốc;

(4) Hoạt động đầu tư tiếp tục sôi động, đang thu hút các dự án  lớn như NOKIA;

(5) Kết cấu hạ tầng quan trọng được đầu tư, nhất là giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục, trong đó khởi công các công trình trọng điểm như cầu vượt sông Đuống, đường 295B...;

(6) Tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp;

(7) Lĩnh vực văn hoá - xã hội tiếp tục chuyển biến về chất, nhất là cơ sở vật chất bệnh viện, xúc tiến xây dựng Trường THPT chuyên Bắc Ninh hiện đại, hệ thống trường THCS chất lượng cao, nâng cao chất lượng giáo dục thực chất và bồi dưỡng nhân tài;

(8) Công tác an sinh xã hội được đảm bảo và giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội bức xúc;

(9) Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững;

(10) Công tác chỉ đạo, điều hành kịp thời, tập trung, quyết liệt và hiệu lực, hiệu quả hơn, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn những khó khăn, tồn tại, hạn chế chủ yếu sau:

- Thời tiết thay đổi bất thường, dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp còn diễn biến phức tạp, đặc biệt là dịch bệnh tai xanh ở lợn đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất nông nghiệp.

- Công tác giải phóng mặt bằng một số dự án chậm, chưa quyết liệt ảnh hưởng lớn đến tiến độ đầu tư. Một số dự án đô thị ở khu công nghiệp, thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn chậm hoàn thiện đưa vào sử dụng, gây bức xúc trong nhân dân.

- Nhu cầu vốn cho đầu tư XDCB rất lớn, đã thực hiện ứng nguồn nhàn dỗi (888 tỷ đồng chưa có nhu cầu sử dụng trong 6 tháng đầu năm 2011); song nguồn thu từ tiền sử dụng đất đạt quá thấp (30% dự toán) ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

- Chất lượng đào tạo lao động còn bất cập, thiếu lao động chất lượng cao, số lao động thiếu việc làm, đặc biệt lao động ở vùng thu hồi đất còn nhiều.

- Công tác bảo vệ và khắc phục ô nhiễm môi trường, đặc biệt ở khu vực làng nghề tuy có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại, chưa triệt để; Tình trạng khai thác trái phép cát sỏi lòng sông vẫn còn diễn ra ở một số địa phương. Công tác dự báo và cung cấp nước sạch còn hạn chế.

- Xã hội còn tiềm ẩn một số vấn đề bức xúc, đơn thư khiếu nại tố cáo và khiếu kiện đông người, vượt cấp có xu hướng tăng so cùng kỳ; toàn tỉnh tiếp 1.726 lượt công dân khiếu kiện, tăng 184 lượt; đến phản ánh 825 vụ việc, tăng 52 vụ; trong đó, có 45 đoàn đông người, tăng 10 đoàn; khiếu kiện vượt cấp đến trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước 235 lượt, tăng 104 lượt so cùng kỳ.

- Tệ nạn cờ bạc, ma tuý còn diễn biến phức tạp, toàn tỉnh có 100/126 số xã, phường, thị trấn (tăng 10 xã) với 1.122 người (tăng 108 người) nghiện ma tuý. Trên địa bàn xảy ra 21 vụ cháy (tăng 15 vụ so cùng kỳ).

- Giá cả hàng hoá tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng tăng 17,38% so với cùng kỳ.

- Nợ xấu ngân hàng nhiều, khoảng 1.118 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng dư nợ, chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp sản xuất giấy, vận tải thuỷ. Việc vay vốn của doanh nghiệp phục vụ cho SXKD còn gặp khó khăn do lãi suất vay cao.

- Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình còn một số hạn chế, số sinh con thứ 3 trở lên 824 trẻ, chiếm 13,1%,  vẫn tiếp tục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, tỷ lệ giới tính khi sinh (127 trai/100 gái).

 

                                                  PHẦN THỨ HAI

NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN

KẾ HOẠCH 6 THÁNG CUỐI NĂM  2011

 

          I- DỰ BÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011

          1. Dự báo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2011

Dự báo tình hình kinh tế - xã hội trong 6 tháng còn lại của năm 2011 còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, phức tạp do ảnh hưởng của tình hình biến động trên thế giới cũng như trong nước, một số doanh nghiệp gặp khó khăn do chính sách thắt chặt tiền tệ trong thời gian qua. Tuy nhiên, thời gian tới lãi suất ngân hàng, lạm phát có xu thế giảm, khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục tăng trưởng cao, công nghiệp trong nước có mức tăng trưởng ổn định; dịch vụ tăng trưởng khá; xuất khẩu được đẩy mạnh,... Từ những kết quả đạt được đáng khích lệ của 6 tháng đầu năm, và sự nỗ lực thực hiện các giải pháp đã đề ra tại Chỉ thị số 01/CT- UBND ngày 07/01/2011của Chủ tịch UBND tỉnh về những nhiệm vụ trọng tâm năm 2011 và Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 08/3/2011 triển khai thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, dự báo kinh tế - xã hội 6 tháng còn lại của năm 2011 sẽ tiếp tục vượt qua những khó khăn, hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đề ra và dự kiến sẽ vượt kế hoạch một số chỉ tiêu quan trọng: tốc độ tăng trưởng kinh tế 16 -17%; giá trị sản xuất công nghiệp 50.000 tỷ đồng; thu ngân sách 6.800 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu 4,5 tỷ USD. Kinh tế tiếp tục duy trì đà phát triển; an sinh xã hội được đảm bảo; đời sống dân cư được cải thiện; chính trị xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững...

2. Xác định một số chỉ tiêu phấn đấu thực hiện đến cuối năm 2011 (cao hơn so với kế hoạch đầu năm).

  - Tổng sản phẩm (GDP) tăng 16-17% (KH là 14-15%);

  - GTSX Công nghiệp trên địa bàn 50.000 tỷ đồng (KH 38.000 tỷ đồng);

  - Kim ngạch xuất khẩu 4,5 tỷ USD (KH 3 tỷ USD);

  - Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6.800 tỷ đồng (KH 5.750 tỷ đồng).

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 6 THÁNG CUỐI NĂM 2011

Cùng với việc thực hiện các nhóm giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và các mục tiêu mà Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra về phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, cần tiếp tục huy động mọi nguồn lực, tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành và động viên toàn thể nhân dân phát huy mạnh mẽ nội lực, hăng hái thi đua về mọi mặt và theo lĩnh vực được phân công, tiếp tục chỉ đạo theo 5 ưu tiên và 3 tập trung; đồng thời triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

1. Tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt Chỉ thị số 01/2011/CT-UBND ngày 07/01/2011 của UBND tỉnh về những nhiệm vụ trọng tâm năm 2011; Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 08/3/2011 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

2. Phát triển công nghiệp, dịch vụ gắn với phát triển đô thị.

Tập trung cao cho giải phóng mặt bằng, cải thiện môi trường thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp hỗ trợ, xây nhà ở cho công nhân. Tập trung cao rà soát và yêu cầu hoàn thiện nhà ở và các công trình công cộng, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại các khu đô thị thương mại, đô thị dịch vụ.

 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch cung cấp điện, đảm bảo cung ứng đủ điện cho sản xuất kinh doanh đặc biệt là trong các khu công nghiệp, làng nghề, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn, trạm bơm tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thiếu điện trong các khu vực này.

Tập trung rà soát tháo gỡ khó khăn ngay từ cơ sở đối với các đơn vị, các ngành để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xuất khẩu. Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm, không để xảy ra tăng đột biến về giá, khan hiếm hàng hóa thiết yếu.

Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch và đầu tư, khai thác thị trường mới; hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia hội chợ thương mại trong và ngoài nước để quảng bá sản phẩm; đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm vào những tháng cuối năm, tạo động lực kích thích phát triển sản xuất. Tăng cường công tác quản lý thị trường, tham gia bình ổn giá cả. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” để thúc đẩy sản xuất trong nước, thay thế hàng nhập khẩu.

3. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tập trung triển khai sản xuất vụ mùa năm 2011, vụ đông xuân năm 2011-2012 đảm bảo sản xuất đúng thời vụ và cơ cấu giống; cung ứng đủ, kịp thời, kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp. Tăng cường các biện pháp phòng trừ, ngăn chặn một số bệnh dịch nguy hiểm ở cây trồng, vật nuôi; thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết của HĐND tỉnh gắn với xây dựng nông thôn mới; hoàn thành 8 xã được thí điểm năm 2011. Hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa; chủ động làm tốt công tác dự báo, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, có giải pháp chủ động xây dựng, nâng cấp, đề xuất biện pháp xử lý các sự cố hư hỏng công trình thuỷ lợi, công trình đê điều.

4. Tiếp tục thực hiện việc điều hành ngân sách Nhà nước theo đúng quy định của pháp luật, phấn đấu tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi; hạn chế tối đa việc bổ sung chi thường xuyên ngoài dự toán, sử dụng tối đa nguồn vượt thu cho đầu tư phát triển, nhất là công trình hạ tầng trọng điểm, dự án phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách và quốc phòng an ninh. Thực hiện nghiêm chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí hành chính; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; kiểm soát hoạt động tín dụng ngân hàng, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ theo tinh thần của Nghị quyết số 11 của Chính phủ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đôn đốc thu nộp thuế, các khoản nợ đọng, tiền sử dụng đất; hạn chế việc ghi thu, ghi chi. Xây dựng cơ chế khuyến khích tăng thu, nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu ngân sách. Tiến hành các thủ tục cần thiết để sớm có quyết định thành lập Cục Hải quan khu vực tại Bắc Ninh.

5.Tiếp tục rà soát công tác quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội; quy hoạch các ngành; quy hoạch xây dựng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đồ án quy hoạch phát triển đô thị, đấu nối cơ sở hạ tầng, khu đại học, dự án chỉnh trang đô thị. Đồng ý chủ trương cho điều chỉnh qui hoạch, chuyển mục đích sử dụng tại một số dự án khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề sang phát triển công nghiệp gắn với đô thị, thương mại, phù hợp với yêu cầu của sự phát triển.

Thường xuyên kiểm tra đôn đốc tiến độ và chất lượng cầu vượt sông Đuống, công trình trọng điểm và các công trình kết cấu hạ tầng, quản lý tốt các công trình BT (đường 295B).  

6. Rà soát tình hình thực hiện các công trình XDCB, nhất là các thủ tục đầu tư xây dựng, đồng thời có giải pháp tích cực giải quyết vướng mắc để đảm bảo tiến độ và chất lượng các công trình, nhất là các công trình giáo dục, y tế, giao thông, thủy lợi... Các chủ đầu tư thường xuyên kiểm tra và tập trung đôn đốc các đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công tăng cường năng lực, phương tiện, điều kiện thi công, đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình, nhanh chóng đưa vào sử dụng.

7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển các lĩnh vực văn hóa- xã hội; cùng với việc thực hiện đồng bộ, kịp thời, có hiệu quả các chính sách xã hội, đảm bảo đời sống nhân dân và an sinh xã hội. Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ Bắc Ninh; đưa dạy hát dân ca quan họ Bắc Ninh vào trong các nhà trường phổ thông. Nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ,  khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp tăng cường đầu tư chiều sâu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng, nhất là các mặt hàng nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng tỷ trọng xuất khẩu. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường THPT chuyên Bắc Ninh và trường THCS chất lượng cao cấp huyện.

8. Tăng cường công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường; tiếp tục kiểm tra và xử lý kiên quyết vi phạm trong quản lý đất đai, khoáng sản. Xử lý ô nhiễm môi ở khu vực làng nghề (trước mắt là làng nghề Phong Khê); Kiểm tra, xử lý nghiêm những sai phạm trong việc triển khai thực hiện xây dựng khu rác thải nông thôn; đẩy nhanh tiến độ khu xử lý rác thải tập trung, quản lý tốt và thực hiện đúng quy hoạch về khai thác và điểm tập kết cát sỏi lòng sông; hoàn thành việc giao đất các dự án trọng điểm, cấp bách năm 2011; trình duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; làm tốt công tác giải phóng mặt bằng; quan tâm giải quyết đất dân cư dịch ở những nơi có nhu cầu. chú ý nút giao tại phường Đồng Nguyên (Yên Phong đi Từ Sơn). Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch thành phố Bắc Ninh.

9. Kiện toàn, hoàn thiện Quy chế làm việc và xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ nhiệm kỳ 2011-2016. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng đơn giản hóa theo Đề án 30 của Chính phủ; nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp. Tăng cường công tác tư pháp, nâng cao chất lượng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo minh bạch, công khai, rõ ràng, dễ hiểu, gọn đầu mối nhưng tránh sơ hở để lợi dụng làm trái.Thực hiện tốt Kết luận Tỉnh ủy và Chỉ thị 04/ CT - UBND của UBND tỉnh về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh (PCI), duy trì trong nhóm 10 tỉnh có môi trường kinh doanh tốt nhất.

Có chế tài khen thưởng, xử phạt đối với các ngành, địa phương trong việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh. Cụ thể hóa và tăng cường hơn nữa trách nhiệm người đứng đầu trên các lĩnh vực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành.

10. Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời các vụ khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở, không để bức xúc kéo dài, phấn đấu giảm khiếu kiện đông người vượt cấp, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục triển khai các biện pháp trấn áp tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội; kiềm chế tai nạn giao thông. Triển khai công tác gọi công dân nhập ngũ đợt II năm 2011, đảm bảo hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; chuẩn bị và thực hiện tốt kế hoạch diễn tập phòng thủ khu vực và xây dựng công trình phòng thủ, trụ sở ban chỉ huy quân sự, công an xã. Thực hiện tốt chương trình phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục chỉ đạo quyết liệt cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở.

11. Xây dựng và triển khai các đề án, thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Triển khai xây dựng chương trình công tác, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách; giao chỉ tiêu và đề ra giải pháp chủ yếu cần tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2012./.

Quay lại

Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh

Search Tìm kiếm

Nhập từ khóa tìm kiếm:



Video Bắc Ninh Bắc Ninh qua Video

Bắc Ninh qua ảnh Bắc Ninh qua Ảnh

Đền Đô
KCN Tiên Sơn
Làng tranh Đông Hồ
Làng Nghề Đông Kỵ
Trung tâm Thành Phố
Chùa Dâu
Đăng ký kinh doanhHỏi đáp thủ tục hành chínhDoi thoai doanh nghiepBắc Ninh cải thiện môi trường đầu tưDanh sách đơn vị có chức năng hỗ trợ doanh nghiệp

          Số giấy phép:154/GP - TTĐT, cấp ngày 22/8/2011

          Cơ quan chủ quản: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

          Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Phương Bắc – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh

         Trụ sở: số 6 Lý Thái Tổ, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh - Điện thoại: 0241.3822.569 - Email: skhdt@bacninh.gov.vn